NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Việt Nam – Hàn Quốc: Những con số lớn và câu chuyện về giá trị

23/09/2026

Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 51 tỷ USD hàng hóa từ Hàn Quốc. Nếu chỉ nhìn vào cán cân thương mại, đây là một con số đáng chú ý. Nhưng phần lớn câu chuyện kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc lại nằm phía sau con số đó.

Nhiều linh kiện, máy móc và nguyên liệu nhập khẩu từ Hàn Quốc đi vào các nhà máy tại Việt Nam, trở thành điện thoại, màn hình, thiết bị điện tử và nhiều sản phẩm khác để tiếp tục tham gia các chuỗi cung ứng và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Cùng thời điểm, tổng vốn đầu tư đăng ký của Hàn Quốc tại Việt Nam đã vượt 102 tỷ USD, với hơn 10.500 dự án còn hiệu lực.

Thương mại, đầu tư và sản xuất vì thế ngày càng trở thành những phần khác nhau của cùng một cấu trúc kinh tế.

Đây cũng là một góc nhìn đáng chú ý đối với Kỳ họp lần thứ 15 Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Hàn Quốc về hợp tác thương mại, công nghiệp và năng lượng, diễn ra ngày 26/8/2026 tại Seoul, do Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc đồng chủ trì. Cùng ngày, hai bên tổ chức Kỳ họp lần thứ 9 Ủy ban hỗn hợp thực thi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA).

Sau hơn ba thập niên phát triển mạnh, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã đạt tới quy mô mà câu chuyện không còn đơn thuần là mở rộng thương mại hay thu hút thêm đầu tư. Việt Nam và Hàn Quốc đang hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại 150 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng hơn. Nhưng phía sau mục tiêu này là một bài toán khó hơn: làm thế nào để tăng phần giá trị được tạo ra tại Việt Nam trong chính dòng thương mại đang ngày càng lớn đó.

150 tỷ USD và câu chuyện phía sau con số

Năm 2025, thương mại Việt Nam - Hàn Quốc đạt khoảng 89,5 tỷ USD theo số liệu thống kê của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch hai chiều đã đạt gần 70 tỷ USD, tăng khoảng 41% so với cùng kỳ; Việt Nam xuất khẩu khoảng 19 tỷ USD và nhập khẩu khoảng 51 tỷ USD.

Khoảng cách giữa hai chiều thương mại khá lớn. Tuy nhiên, sẽ chưa đầy đủ nếu nhìn phần nhập siêu này như một vấn đề thương mại thuần túy.

Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Tính đến cuối tháng 7/2026, các nhà đầu tư Hàn Quốc có 10.567 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 102,6 tỷ USD. Một phần đáng kể dòng vốn này tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo và các lĩnh vực như điện tử, công nghệ cao, ô tô và linh kiện.

Chính cấu trúc đầu tư đó tạo ra nhu cầu nhập khẩu lớn về máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Nói cách khác, một phần hàng hóa đi từ Hàn Quốc sang Việt Nam không dừng lại ở thị trường Việt Nam mà trở thành đầu vào của một mạng lưới sản xuất rộng hơn.

Điều này làm cho mục tiêu “thương mại cân bằng hơn” cần được nhìn theo một cách rộng hơn. Mở rộng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Hàn Quốc vẫn rất quan trọng, nhất là đối với nông sản, thực phẩm và các mặt hàng Việt Nam có lợi thế. Việc tận dụng tốt hơn VKFTA, đưa hàng Việt Nam vào các hệ thống phân phối và thương mại điện tử của Hàn Quốc cũng là những hướng đi đã được hai bên đặt ra tại Kỳ họp.

Nhưng còn một con đường khác: tăng phần linh kiện, nguyên liệu, thiết bị và dịch vụ mà doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp ngay cho các doanh nghiệp Hàn Quốc đang sản xuất tại Việt Nam.

Ở điểm này, bài toán thương mại bắt đầu trở thành bài toán công nghiệp.

Từ một địa điểm sản xuất đến một mắt xích sâu hơn trong chuỗi giá trị

Hơn 102 tỷ USD vốn đăng ký cho thấy Việt Nam đã trở thành một địa bàn sản xuất quan trọng của nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc. Samsung, LG cùng nhiều doanh nghiệp vệ tinh đã hình thành những mạng lưới sản xuất lớn trong lĩnh vực điện tử và công nghiệp chế tạo.

Thành công này đồng thời tạo ra một yêu cầu mới.

Trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút FDI, số vốn, số dự án, công suất nhà máy và việc làm tạo ra là những chỉ tiêu rất quan trọng. Khi các chuỗi sản xuất đã tồn tại hàng chục năm, câu hỏi dần chuyển sang một cấp độ khác: doanh nghiệp trong nước tham gia được bao nhiêu vào những chuỗi đó?

Đây không đơn thuần là câu chuyện “nội địa hóa” theo nghĩa thay thế hàng nhập khẩu. Quan trọng hơn là năng lực của doanh nghiệp Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng, công nghệ và tiêu chuẩn quản trị của những tập đoàn toàn cầu.

Nếu một doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp ổn định cho một tập đoàn Hàn Quốc tại Bắc Ninh, Thái Nguyên hay Hải Phòng, cơ hội của doanh nghiệp đó không nhất thiết dừng ở một nhà máy tại Việt Nam. Khi đáp ứng được tiêu chuẩn của chuỗi, khả năng tham gia mạng lưới cung ứng rộng hơn cũng được mở ra.

Vì thế, một nội dung đáng chú ý tại Kỳ họp lần thứ 15 là việc hai bên tiếp tục đặt vấn đề thúc đẩy doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư và hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam để sản xuất sản phẩm, linh kiện và thiết bị phục vụ các dự án tại Việt Nam.

Nếu quá trình này tiến triển, quan hệ FDI Việt Nam – Hàn Quốc sẽ dần được đánh giá không chỉ bằng lượng vốn đầu tư, mà còn bằng số doanh nghiệp Việt Nam đủ khả năng đứng trong mạng lưới nhà cung cấp của các tập đoàn Hàn Quốc.

Khi nhà máy không còn là phần khó nhất

Một thay đổi khác đang diễn ra trong chính cấu trúc công nghiệp.

Điện tử vẫn là một nền tảng quan trọng của hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc, nhưng các cuộc trao đổi gần đây ngày càng mở rộng sang bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, tự động hóa và những ngành công nghiệp tiên tiến. Tại Kỳ họp lần thứ 15, hai bên cũng thống nhất thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mang tính chiến lược và định hướng tương lai, cùng với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sản xuất.

Ở những ngành này, xây dựng nhà máy chưa chắc là phần khó nhất.

Một nhà máy có thể được xây dựng trong vài năm. Nhưng để hình thành đội ngũ kỹ sư có khả năng thiết kế, vận hành và cải tiến công nghệ; mạng lưới nhà cung cấp đáp ứng tiêu chuẩn; các phòng thí nghiệm, trung tâm R&D và doanh nghiệp công nghệ có khả năng làm việc cùng các tập đoàn lớn cần thời gian dài hơn nhiều.

Đó cũng là lý do hợp tác nguồn nhân lực ngày càng gắn chặt với hợp tác công nghiệp.

Nếu Việt Nam chỉ cung cấp mặt bằng, lao động và một phần dịch vụ sản xuất, giá trị giữ lại trong nước sẽ có giới hạn. Nếu kỹ sư Việt Nam tham gia nhiều hơn vào thiết kế, R&D, phần mềm, tự động hóa và các công đoạn kỹ thuật có giá trị cao, cùng một quy mô đầu tư có thể tạo ra một chất lượng tăng trưởng khác.

Bởi vậy, bán dẫn hay AI chỉ thực sự có ý nghĩa đối với quan hệ công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc khi đi cùng một câu chuyện ít hào nhoáng hơn nhưng căn bản hơn: năng lực của doanh nghiệp và con người Việt Nam.

Và phía sau công nghiệp là năng lượng

Có một lý do khiến năng lượng xuất hiện cùng thương mại và công nghiệp trong cơ chế Ủy ban hỗn hợp giữa hai nước.

Một nền công nghiệp công nghệ cao cần một hệ thống năng lượng tương ứng.

Các nhà máy điện tử, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và hệ thống sản xuất tự động không chỉ cần nhiều điện. Chúng cần nguồn điện ổn định, chất lượng cao và ngày càng phải đáp ứng yêu cầu sử dụng năng lượng sạch, giảm phát thải của các tập đoàn và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tại Kỳ họp lần thứ 15, hai bên tiếp tục trao đổi về hợp tác trong dầu khí, điện khí, hạ tầng lưới điện, năng lượng tái tạo và chính sách năng lượng. Trong các cuộc làm việc với doanh nghiệp Hàn Quốc tại Seoul, phía Việt Nam cũng trao đổi về lưới điện, công nghệ truyền tải, lưu trữ năng lượng, LNG, năng lượng sạch, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.

Nhìn từ góc độ này, năng lượng không phải một chương riêng đứng bên cạnh công nghiệp. Nó ngày càng trở thành một trong những điều kiện quyết định khả năng Việt Nam tiếp tục thu hút và giữ chân các ngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao.

Và đây cũng là nơi hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc có thể thay đổi về chất. Thay vì chỉ có nhà đầu tư phát triển một dự án năng lượng tại Việt Nam, dư địa hợp tác còn nằm ở công nghệ lưới điện, lưu trữ, thiết bị, đào tạo kỹ sư, nghiên cứu – phát triển và khả năng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng năng lượng.

Tất nhiên, từ trao đổi tại một kỳ họp đến một dự án đầu tư vẫn còn một khoảng cách. Những khả năng hợp tác này chỉ trở thành kết quả khi đáp ứng được yêu cầu về quy hoạch, hiệu quả kinh tế, công nghệ và khuôn khổ pháp lý của Việt Nam.

Giá trị nào ở lại?

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu 150 tỷ USD, thành công của quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc trong vài năm tới khá dễ đo: kim ngạch tăng bao nhiêu, xuất khẩu tăng bao nhiêu, có thêm bao nhiêu dự án và vốn đầu tư.

Nhưng một quan hệ kinh tế đã có gần 90 tỷ USD thương mại mỗi năm và hơn 100 tỷ USD vốn FDI đăng ký cần thêm những thước đo khác.

Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 trong các chuỗi sản xuất? Tỷ lệ linh kiện và dịch vụ được cung ứng trong nước thay đổi như thế nào? Hoạt động R&D có mở rộng không? Kỹ sư Việt Nam tham gia vào những công đoạn nào? Các dự án năng lượng và hạ tầng có kéo theo công nghệ và năng lực sản xuất mới hay không?

Đó là những câu hỏi khó đo hơn kim ngạch thương mại.

Nhưng chính chúng sẽ cho biết quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc đang lớn lên về quy mô, hay đồng thời đang đi lên về chất lượng.

Kỳ họp lần thứ 15 diễn ra trong lúc hai nước đang tiến gần hơn tới mục tiêu thương mại 150 tỷ USD vào năm 2030. Mốc này có ý nghĩa, nhưng có lẽ giá trị lớn hơn nằm ở những gì được tạo ra trong quá trình đi tới đó.

Nếu cùng với mỗi tỷ USD thương mại tăng thêm là nhiều hơn linh kiện được sản xuất tại Việt Nam, nhiều hơn doanh nghiệp Việt Nam bước vào chuỗi cung ứng, nhiều hơn kỹ sư tham gia R&D và nhiều hơn công nghệ được hấp thụ vào nền kinh tế, thì 150 tỷ USD sẽ không chỉ là một con số lớn hơn.

Nó sẽ phản ánh một cấu trúc hợp tác sâu hơn giữa hai nền kinh tế.

Nguyễn Văn Hiến

Phòng Thông tin và Truyền thông - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC