Ngày 02/7/2026 tại trụ sở 17 Yết Kiêu, Hà Nội, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương đã tổ chức hội thảo: “Tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước tác động đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại Việt Nam.”
Hội thảo do TS. Hoàng Trường - Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương chủ trì và điều hành. Tham dự buổi Hội thảo có các chuyên gia, lãnh đạo các phòng ban của Viện, các nhà khoa học, đại diện các đơn vị thuộc Bộ, đại diện báo Công Thương, Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại và các đại biểu quan tâm.
Tại Hội thảo, đại diện Phòng Dự báo thị trường đã trình bày tóm tắt tình hình kinh tế xã hội thế giới và trong nước trong nửa đầu năm, những diễn biến mới nhất trong tháng 6/2026; Dự báo tác động của tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại Việt Nam trong thời gian tới; Đề xuất một số giải pháp ứng phó và các kiến nghị với các Bộ, Ngành.
Báo cáo đã phân tích những tác động đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại của Việt Nam, cụ thể như sau:
Đối với công nghiệp, công nghiệp vẫn là động lực tăng trưởng chính, nhưng triển vọng nửa cuối năm phụ thuộc nhiều vào sức cầu bên ngoài đang có dấu hiệu chậm lại và diễn biến đàm phán thuế quan với Hoa Kỳ. Việc giá dầu và chi phí đầu vào toàn cầu hạ nhiệt là yếu tố hỗ trợ biên lợi nhuận doanh nghiệp và kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá từ đồng USD mạnh, cùng yêu cầu duy trì kim ngạch xuất khẩu ở mức cao để đạt mục tiêu cả năm, đòi hỏi đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh phụ thuộc vào thị trường Mỹ; Trong 6 tháng cuối năm 2026, lĩnh vực công nghiệp Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, với công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò động lực chủ yếu của nền kinh tế. Sự ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh đầu tư công, thu hút FDI và phục hồi đơn hàng xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, lĩnh vực công nghiệp vẫn đối mặt với nhiều thách thức từ biến động giá năng lượng, chi phí logistics, rủi ro bảo hộ thương mại, yêu cầu chuyển đổi xanh và áp lực nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đối với lĩnh vực năng lượng, hệ thống điện đang chịu sức ép ngày càng lớn về công suất và lưới truyền tải, với mức độ công suất cực đại toàn quốc tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh tốc độ gia tăng rất nhanh của nhu cầu điện trong điều kiện nắng nóng. Áp lực đặc biệt lớn tại miền Bắc, nơi nhu cầu công nghiệp và sinh hoạt tăng nhanh nhưng nguồn điện tại chỗ và năng lực truyền tải còn hạn chế; Việc phụ tải điện liên tục phá kỷ lục trong khi công suất khả dụng nguồn nhiệt điện suy giảm và điện nhập khẩu bị hạn chế cho thấy hệ thống điện đang vận hành sát giới hạn trong cao điểm, đòi hỏi chuyển trọng tâm từ bảo đảm đủ sản lượng sang bảo đảm đủ công suất khả dụng giờ cao điểm và đẩy mạnh quản lý phía cầu (điều chỉnh phụ tải, dịch giờ dùng điện, giá điện theo thời gian sử dụng). Bảo đảm cung ứng điện ổn định là điều kiện trực tiếp để duy trì sản xuất công nghiệp và thu hút đầu tư; Sự tham gia tích cực của điện khí LNG (đóng góp trên 3.000 MW giờ cao điểm) giúp củng cố an ninh cung ứng nhưng cũng làm hệ thống điện nhạy cảm hơn với giá LNG quốc tế đang ở vùng cao. Việc PV Power chủ động thu xếp nguồn LNG dài hạn kết hợp giao ngay và cơ chế hợp đồng sai khác là hướng đi đúng để giảm thiểu rủi ro giá. Trong bối cảnh hiện nay, việc Nhật Bản và Hàn Quốc giảm nhu cầu nhập khẩu LNG có thể góp phần nới lỏng thị trường LNG giao ngay tại châu Á (JKM), mặc dù mức độ còn phụ thuộc vào diễn biến nguồn cung và yếu tố địa chính trị. Đối với Việt Nam, việc thị trường JKM được nới lỏng mang lại một số lợi ích như giảm áp lực tăng giá LNG nhập khẩu cho các nhà máy điện khí LNG; hỗ trợ ổn định chi phí nhiên liệu cho các dự án điện LNG đang và sắp vận hành; góp phần giảm áp lực lên giá điện và chi phí sản xuất của doanh nghiệp, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn cung. Tuy nhiên, nếu căng thẳng tại Trung Đông kéo dài hoặc xảy ra gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz, giá JKM vẫn có thể tăng trở lại dù nhu cầu từ Nhật Bản và Hàn Quốc suy yếu, dẫn đến giá LNG và chi phí logistics tiếp tục biến động khó lường; Bên cạnh lạm phát, tỷ giá cũng là một rủi ro cần theo dõi chặt chẽ. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn bất định, đồng USD có thể duy trì sức mạnh nếu các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục thận trọng với lộ trình giảm lãi suất; khi đó các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam, có thể đối mặt với áp lực dòng vốn, chênh lệch lãi suất và tâm lý nắm giữ ngoại tệ. Tỷ giá tăng không chỉ ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối, mà còn tác động đến chi phí nhập khẩu, nghĩa vụ trả nợ ngoại tệ, giá nguyên vật liệu và tâm lý nhà đầu tư. Với một nền kinh tế có độ mở lớn, nhập khẩu nhiều máy móc, linh kiện, xăng dầu, nguyên liệu sản xuất như Việt Nam, biến động tỷ giá có thể nhanh chóng truyền dẫn vào giá thành sản xuất và lạm phát.
Đối với lĩnh vực thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu phục hồi mạnh trong những tháng đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực đối với sản xuất và thương mại. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu và cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu lũy kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 6/2026 là vấn đề cần được phân tích thận trọng; Ở mặt tích cực, nhập khẩu tăng có thể phản ánh nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc và linh kiện phục vụ sản xuất đang cải thiện. Điều này cho thấy doanh nghiệp có thêm đơn hàng và kỳ vọng mở rộng hoạt động trong các quý tới. Tuy nhiên, nếu nhập siêu kéo dài, nền kinh tế có thể đối mặt với áp lực về cán cân thanh toán, tỷ giá và dự trữ ngoại hối.
Một điểm đáng chú ý khác là cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu khi lũy kế xuất siêu từ đầu năm đến giữa tháng 6/2026 đạt 5,8 tỷ USD, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước thâm hụt 22,61 tỷ USD do còn hạn chế về năng lực tham gia chuỗi cung ứng, công nghiệp hỗ trợ và giá trị gia tăng xuất khẩu. Đây là thách thức dài hạn, bởi nếu nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào khu vực FDI, tăng trưởng xuất khẩu có thể cao về quy mô nhưng mức độ lan tỏa đến doanh nghiệp nội địa chưa tương xứng...
Trong phần thảo luận, các chuyên gia, nhà khoa học đều nhận xét bản báo cáo mang tính nghiên cứu khoa học tổng hợp, phân tích kỹ về tình hình kinh tế xã hội của khu vực Châu Á, Mỹ, Canada… đã đánh giá các tác động tích cực, tiêu cực đến công nghiêp, năng lượng và thương mại của Việt Nam, từ đó đưa ra một số các giải pháp ứng phó và đề xuất các kiến nghị với các Bộ, Ngành. Tuy nhiên, báo cáo cần cập nhật thêm thông tin số liệu mới nhất, đánh giá tác động cụ thể hơn nữa đến lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và thương mại.
Kết thúc hội thảo, TS. Hoàng Trường trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp thiết thực từ phía các chuyên gia, nhà khoa học. Ông đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu, chỉnh sửa nhằm nâng cao chất lượng để làm tài liệu tham khảo hữu ích cho Lãnh đạo Bộ./.
Nguyễn Kiều Ly
Phòng Thông tin và Truyền thông - VIOIT
Một số hình ảnh tại Hội thảo:



