Tại Hội thảo khoa học quốc gia "Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới" (Hà Nội, ngày 20/8/2026), phát triển kinh tế số được xác định đây là một phương thức phát triển mới, cho phép mở rộng không gian sản xuất vượt khỏi giới hạn của tài nguyên vật lý, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn về năng lực nội sinh.
Các ý kiến đóng góp tại hội thảo cho rằng kinh tế số là một trong nhóm động lực mới của mô hình phát triển, gắn với Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nội dung được trình bày trên ba phương diện: bản chất của kinh tế số, hiện trạng phát triển, và điểm nghẽn.
Dữ liệu với tư cách một tư liệu sản xuất mới
Tại phần tham luận, PGS.TS Phạm Minh Tuấn (Tạp chí Cộng sản) xác định dữ liệu là một tư liệu sản xuất trực tiếp, một dạng vốn đặc biệt, với hai thuộc tính. Thứ nhất là tính không cạnh tranh, khi nhiều chủ thể có thể cùng khai thác một tập dữ liệu mà không làm nó hao mòn. Thứ hai là hiệu ứng mạng, khi giá trị tăng theo mức độ kết nối và chia sẻ. Trên cơ sở đó, tham luận nêu một số đặc điểm của kinh tế số: nền tảng số kết nối trực tiếp người sản xuất với người tiêu dùng và giảm bớt khâu trung gian; ranh giới giữa các ngành mờ dần, hình thành những mô hình như công nghệ tài chính, nông nghiệp thông minh, logistics thông minh; và chi phí giao dịch được rút ngắn. Từ những đặc điểm này, kinh tế số được xác định là một phương thức phát triển, không đơn thuần là một ngành.
Toàn cảnh phiên thảo luận của Hội thảo
Hiện trạng và cấu trúc hai tầng của kinh tế số
Củng cố, minh họa thêm cho tốc độ tăng trưởng và tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế số. Theo số liệu được dẫn tại hội thảo, kinh tế số hiện chiếm khoảng trên 1/10 GDP và duy trì tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung của nền kinh tế; thương mại điện tử thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á; hạ tầng số và độ phủ mạng thế hệ mới ở mức khá so với khu vực.
Cũng theo PGS.TS Phạm Minh Tuấn, dưới góc nhìn quản trị, kinh tế số nên được phân loại thành hai tầng: kinh tế số lõi, gồm sản xuất công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), phần mềm, phần cứng, nền tảng và thương mại điện tử; kinh tế số lan tỏa, là phần giá trị hình thành khi công nghệ số thâm nhập vào các ngành công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục.

Đại biểu tham gia thảo luận tại Hội thảo
Điểm nghẽn về mức độ lan tỏa và năng lực nội địa
Nhận định chủ đề trên, T.S Trần Đình Thiên (chuyên gia kinh tế) xác định điểm nghẽn cốt lõi là kinh tế số lõi còn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt trong công nghiệp bán dẫn, khiến giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Còn T.S Nguyễn Sỹ Dũng (Nguyên PCN Văn phòng Quốc Hội) nhận định: hạ tầng số chưa đồng bộ giữa đô thị và nông thôn; năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), mới dừng ở số hóa quy trình; dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông; và thiếu nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn.
Về giải pháp, hội thảo ghi nhận nhiều ý kiến trực tiếp cùng các tham luận có chủ đề liên quan. Các đề xuất tập trung vào các giải pháp chính như: (i) dịch chuyển doanh nghiệp qua ba bậc, từ số hóa cơ bản đến tối ưu hóa quy trình và tạo lập sản phẩm, mô hình kinh doanh số; (ii) từng bước làm chủ các công nghệ nền như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn; (iii) đẩy mạnh liên kết ba nhà giữa Nhà nước, Viện – Trường và doanh nghiệp, cùng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) theo Nghị quyết số 57-NQ/TW./.

Đại diện VIOIT tham dự Hội thảo
Nguyễn Tuấn Minh
Phòng Nghiên cứu Công nghiệp - VIOIT